90 lượt xem

Nội hàm thâm sâu rộng lớn của hai chữ “Trí Tuệ”

‘Trí tuệ’ trong tiếng Hán viết là ‘智慧’. ‘Từ điển Hán ngữ’ giải thích 2 từ này như sau: dùng để chỉ năng lực phân tích, phán đoán, phân biệt và phát minh sáng tạo của con người. Nhưng nội hàm ẩn sau đó không hề giản đơn, chúng ta hãy cùng phân tích:

Chữ Trí 智

Chữ Trí 智 có cấu tạo trên ‘Văn tự Giáp Cốt’ là :  “” = (gồm chữ Can 干: vũ khí được chế tạo ra bằng gỗ) + (bộ Thỉ 矢: mũi tên) + (bộ Khẩu口: nói năng ). Trên  ‘Kim Văn’ cũng cấu tạo “” cộng thêm ” (bộ Viết口: nói năng) vào bên dưới, nghĩa là nhấn mạnh thêm về “lời nói”. Chữ Trí trong chữ Hán dị thể là  “” vẫn giữ nguyên hình dáng ban đầu như chữ ‘Kim Văn’.
Vào thời kỳ rất sớm thời xa xưa, chữ “Tri 知” thường vẫn có thể được dùng thay cho chữ  “Trí 智”, được sử dụng khá phổ biến, nhưng dần dần về sau được sử dụng riêng biệt. Chữ Tri 知 : trong chữ Triện được viết : “” = “” (bộ Thỉ 矢: mũi tên) + (bộ Khẩu口 : lời nói).
Chữ ‘Trí’ có bộ Can 干 là vũ khí, và mũi tên cũng là vũ khí. Ở giữa là  “bộ Khẩu口” tách đôi hai vũ khí ra. Nếu khi hai cái vũ khí đó kết hợp với nhau, có nghĩa là sẽ xảy ra chiến tranh, tranh chấp, xung đột. Xuất hiện tranh chấp và chiến tranh điều đó nói lên rằng không thể dùng đạo lý mà giảng được nữa rồi và không thể phân biệt rõ được thị phi, phải trái. Nếu dùng cái miệng “bộ Khẩu 口” mà có thể làm cách khai hai vũ khí ra, tức là dùng lời nói có thể giải quyết các tranh chấp, đó chính là ‘Trí’, chữ ‘Trí’ này có ý nghĩa là có năng lực phân biệt rõ và giải khai được nghi hoặc.
Chữ “Tri 知”(biết): Tức là mũi tên cộng với cái miệng. Giống như người xưa nói, một khi cung đã bắn tên thì mũi tên không bao giờ quay ngược trở lại. Đặc điểm của mũi tên là sau khi bắn xong không thể thu hồi lại, một mạch bay thẳng đến đích mà không rẽ ngang rẽ dọc. Cái miệng đại diện cho lời nói, có nghĩa là những lời nói ra đều đi thẳng vào vấn đề và sẽ không rút lại hay thay đổi.
Trong những trường hợp nào thì lời nói không thể rút lại? Đó chính là khi lời nói mang tính chính xác được chứng minh và trải qua thời gian thử nghiệm, cũng có nghĩa là khi lời nói ra là sự thật, thì lời nói đó sẽ không rút lại, đồng thời lời nói ra phải nói trúng trọng điểm.
Vì vậy, nghĩa gốc của chữ “Trí 智” là: sáng suốt tách bạch, ngôn luận nói năng là đi thẳng vào vấn đề. Ngôn luận là biểu đạt bên trong, là biểu hiện ra bên ngoài của tư tưởng và trình độ của bản thân người đó. Trình độ như thế nào thì có thể nói ra những lời như thế ấy, minh bạch đạo lý thì mới nói ra được đạo lí, hiểu rõ được thị phi mới phân biệt được thị phi.
Cho nên, nếu dùng lời nói mà có thể làm sáng tỏ đạo lý và đi đúng trọng tâm vấn đề, thì chứng tỏ một điều rằng bạn là một con người thông thạo, hiểu biết và thông minh. Vì vậy, ý nghĩa chữ “Trí 智” cũng được mở rộng là thông hiểu sự việc, hiểu biết nhiều, thông minh mẫn tiệp.
Nho gia rất coi trọng chữ “Trí 智” và định vị nó là một trong “ngũ thường”, là chuẩn tắc ứng xử của con người, “Ngũ thường” được phân thành: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín. Khổng Tử nói: “Trí giả bất hoặc” (bậc trí huệ sẽ không bao giờ bị mụ mị). Đây là lí giải của Nho gia về chữ “Trí 智”, chỉ có kiến ​​thức rộng, hiểu rõ sự vật, có khả năng phân biệt thị phi, phải trái thì mới có thể đạt được  bất hoặc” (không mụ mị).

Chữ Tuệ 慧

Chữ Tuệ 慧 bao gồm chữ Tuế  彗 ở trên và chữ  Tâm 心 ở dưới. Chữ Tuế 彗 trong ‘chữ Triện’ cấu tạo là: “” = (chữ phong 豐 có nghĩa: cỏ cây, cành lá tươi tốt sum suê) + (chữ phong 豐) + (tay cầm). Nghĩa gốc của từ là: dùng cỏ cây, cành lá khô đan thành cây chổi. Vì thế mà sao chổi cũng được gọi là “Tuế tinh 彗星”.
Chữ Tâm 心 (trái tim) viết theo kiểu chữ Triện là: ““. Chữ Xà 蛇 (con rắn) viết theo kiểu chữ Triện là: “” tượng trưng cho lòng tham và dục vọng. Nhìn qua có thể thấy rằng ký tự “” của chữ Tâm rất giống với ký tự  của chữ Xà, trên đỉnh đầu ký chữ  (Tâm) có một cái cửa, cái cửa này là “cửa của quả tim”. Nếu mất lý trí, mê mất bản tính hoặc bị dục vọng che lấp, thì cái cửa trên đỉnh quả tim sẽ bị bịt lại và lúc này nó sẽ giống với chữ (Xà – con rắn)
Chữ Tuệ 慧 viết theo kiểu chữ Triện là “” = “” (chữ Tuế 彗, cũng có nghĩa là cây chổi) + “” (trái tim). Nghĩa gốc là: chổi được dùng để quét dọn và lau chùi những thứ bẩn thỉu. Cái Chổi đặt trên bộ “Tâm 心” có nghĩa là làm sạch tâm cang, làm sạch tâm hồn, quét sạch lòng ham muốn, chấp trước, ích kỷ và ý nghĩ xấu xa, để giữ cho trái tim thuần chân và trong sạch.